Hieu's profileDaoDuyHieu's Blog - Than...PhotosBlogListsMore ![]() | Help |
|
|
September 26 Windows Server 2008 Step-by-Step GuidesOverview :These step-by-step guides help IT Professionals learn about and evaluate Windows Server 2008. System Requirements:Supported Operating Systems: Windows Server 2008 Files in This Download :- Creating_and_Deploying_Active_Directory_Rights_Management_Se rvices_Templates_Step-by-Step_Guide.doc December 02 PFSENSE : Load Balancing & Failover With Dual/ Multi WAN / ADSLCÀI ĐẶT VÀ CẤU HÌNH PFSENSE Mô hình LAB (nhóm 2 máy)
Lưu ý: -Địa chỉ Router : 192.168.20.Y -Địa chỉ IP máy 200 : 192.168.P.200 -P là số phòng X,Y : là số máy. *Chuẩn bị : Để có 2 line truy cập Internet : -Cấu hình NAT server cho PFsense có thể truy cập Internet bằng card Cross. -Kiểm tra đường truyền cho PFSense truy cập Internet bằng card LAN I. Tạo card mạng Loopback (thực hiện trên máy thật) Start -> Settings -> Control Panel -> Add Hardware Welcome Next. Chọn Yes.I have already… -> Next Chọn Add a new hardware device -> Next Install the hardware that …. -> Next Chọn Network adapters -> Next. Chọn Microsoft Loopback Adapter -> Next. Next -> Finish. II. Cấu hình máy ảo: Start -> Programs -> Microsoft Virtual PC -> Tạo 1 Máy ảo mới Lưu tại thư mục gốc ổ đĩa C: Next. Chọn lại thêm Ram nếu cần thiết. Chọn A new virtual hard disk. Virtual hard disk size 2000MB Finish. Màn hình máy ảo chọn Setting -> Networking -> Chọn 3 card mạng Theo thứ tự -Adapter 1 : Microsoft Loopback -Adapter 2 : Card Cross -Adapter 3 : Card Lan III. Cài đặt PFSense (thực hiện trên máy ảo) Start máy ảo lên. Menu CD chọn Capture ISO Image.. Chọn File pfSense-1.2-RC…. -> Open. Chương trình khởi động để chạy mặc định. Do you want to setup VLANs now -> gõ n -> Enter. Cấu hình các Interface -> LAN interface -> gõ de0 -> Enter. WAN interface -> gõ de1 -> Enter. Optional 1 -> gõ de2 -> Enter. Optional 2 -> Enter -> D you want to proceed -> nhập y -> Enter. Enter an option 2 -> Enter. Nhập vào địa chỉ IP 192.168.30.1 -> Enter. Nhập vào 24 -> Enter. Chọn n -> Enter. Sau khi hiện lên Enter to continue chọn Enter
IV. Cấu hình PFSense (thực hiện trên máy thật) Mở IE -> Nhập địa chỉ 192.168.30.1 -> Enter. Username: admin , Password : pfsense -> Enter. Menu Interfaces -> Chọn WAN Type Chọn Static IP address -> Thông số IP card Cross -> Save Settings. Menu Interfaces chọn OPT1. Check vào khung Enable Optional 1 interface.Description sửa lại WAN2. Phần IP configuration nhập vào thông số card Lan. Menu Services -> Chọn Load Balancer Chọn Add Pools. Name : Can Bang Tai Type : Gateway Behaviour : Load Balancing. Monitor IP Chọn WAN’s Gateway -> Interface Name Chọn WAN -> Add to pool Monitor IP Chọn WAN2’s Gateway -> Interface Name Chọn WAN2 -> Add to pool -> Save. Apply changes Menu Firewall -> Rules Chọn WAN -> Add a new rule. Phần Gateway chọn Can bang Tai -> Save. WAN2 -> Add a new rule Phần Gateway chọn Can Bang Tai -> Save LAN chọn Edit. Phần Gateway chọn Can Bang Tai -> Save. V. Kiểm tra Menu Status -> Chọn Load Balancer. Trạng thái là online trên cả 2 Line. Truy cập Internet Thành công. Rút dây card Lan. Vẫn sử dụng được Internet. Rút dây card Cross. Truy cập Internet vẫn bình thường. October 16 TOP 10 BÀI LAB QUẢN TRỊ MẠNG1 - Thiết Lập Hệ thống Mạng cho Doanh Nghiệp vừa và nhỏ II. Giới Thiệu: 2 - Giải pháp Mail Offline cho doanh nghiệp II. Giới thiệu: III. Các bước triển khai: 3 - Giải pháp Free Mail Online cho doanh nghiệp I. Giới thiệu: 4 - Hệ thống Mạng Domain Network Dùng trong Quản lý Doanh Nghiệp II. Giới thiệu: Với các mô hình trước sử dụng mạng Workgroup tuy có lợi điểm là đơn giản , dễ triển khai nhưng không thuận lợi trong công tác quản trị và tính bảo mật kém, do vậy mô hình Lab-4 giói thiệu hệ thống Domain Network với các ưu điểm 5 - Hệ thống Domain Network nhiều Networks/Subnets II. Giới thiệu: 6 - Xây dựng và cấu hình ISA Server 2006 I. Mô hình: II. Giới thiệu: III. CÁC BƯỚC TRIỂN KHAI: 7 - Server Publishing thông qua ISA Server 2006 I. Mô hình: II. Giới thiệu: III. CÁC BƯỚC TRIỂN KHAI: 8 - Hệ thống mở rộng & Kết nối WAN I. Mô hình: M1: DC Sài Gòn (card CROSS) II. Giới thiệu: III- Các bước triển khai: 9 - Chia Site logic cho Domain Network II. Giới thiệu: III. Các bước triển khai: 10 - Xây dựng Child Domain I. Mô hình: (như bài lab 9) II. Giới thiệu: III. Các bước thực hiện: October 15 GIẢI PHÁP MAIL VÀ INSTANT MESSAGING VỚI WINDOWS LIVE CUSTOM DOMAINSĐể triển khai hệ thống e-mail với tên miền riêng, chúng ta có các giải phải như: Mail Online, Mail Offline, hoặc giải pháp có chi phí “mềm” hơn như Google Application. Và để phục vụ cho nhu cầu Instant Messaging, chúng ta thường sử dụng Yahoo Messenger, Hotmail, Live Messenger… Nhưng nếu hệ thống chúng ta có nhu cầu sử dụng Instant Messaging với tên miền riêng thì thông thường chúng ta phải triển khai Micosoft Office Communication 2007… Mục đích của bài viết này là chúng tôi sẽ trình bài cách triển khai hệ thống Mail và Instant Messaging bằng dịch vụ Windows Live Custom Domains với tên miền riêng và có chi phí không đáng kể Bài lab bao gồm các bước: 1. Đăng ký Windows Live Custom Domain 2. Cấu hình DNS Record trên Internet Domain 3. Tạo E-mail Account 4. Kiểm tra gởi và nhận E-mail 5. Instant Messaging với Windows Live Messenger 6. Đưa giao diện Account Sign-Up lên Web Site September 27 WEB SERVER SECURITY
del.icio.us Tags: ISA SERVER Để một WebServer an toàn trước những tấn công từ bên ngoài thì ta cần có một tường lửa (ISA Server). Theo những gì ta đã biết thì ta cần phải có 2 máy (1 máy làm WebServer, 1 máy làm Firewall), tuy nhiên với mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ta chỉ có được một Server đặt trên các ISP (FPT, VDC …). Vì vậy trong bài lab này sẽ trình bày cách cài đặt dịch vụ Web Services và ISA trên cùng một Server vật lý. Bài lab bao gồm các bước: 1. Cài đặt card loopback, cấu hình WebServer lắng nghe trên card loopback Phần 2 : Bảo mật WebServer 1. Bảo mật AdminCP với tools IIS Password August 24 TCP/IP (Part 1)Truớc khi bạn lấy được bằng lái xe, bạn phải qua được một bài thi viết về luật giao thông. Tương tự như vậy, trước khi bạn vào “siêu xa lộ thông tin”, bạn phải hiểu về các protocol điều khiển luồng thông tin. Bài này giới thiệu với bạn các luật như thế, được gọi là Transmission Control Protocol/Internet Protocol (TCP/IP). Bạn sẽ học những luật này và xem chúng ảnh hưởng trên đường truyền giao tiếp như thế nào, nhằm mục đích giúp bạn có thể tự phòng thủ một cách tốt nhất trước các tấn công của hacker. Bất kỳ lúc nào bạn kết nối vào Internet bằng đường điện thoại hoặc bằng một đường truyền băng thông rộng là máy tính của bạn đã trở thành một phần của World Wide Web. Nếu bạn có thể yêu cầu truy cập vào máy tính giữ địa chỉ của www.microsoft.com thì mọi nhân vật ở microsoft.com cũng có thể kết nối vào máy tính của bạn. Các lý giải tương tự tiếp theo đây sẽ minh họa cho liên kết vừa nói, bằng cách so sánh giữa cơ sở hạ tầng của Internet và các con đường nối liền các ngôi nhà lại với nhau. Máy tính cũng giống như một ngôi nhà Một ngôi nhà và tương quan của nó với đường vào nhà, với các con đường xung quanh cũng tương tự như một máy tính và tương quan của nó với Internet . Hãy tưởng tượng ra một căn nhà nằm tách biệt giữa rừng. Nó sẽ là mục tiêu khó gặm đối với một tên trộm. Dĩ nhiên là tên trộm vẫn có thể lội bộ xuyên qua khu rừng và lấy đi một số món đồ nhỏ nào đấy, nhưng nếu để lấy nhiều đồ, hắn sẽ phải vác chúng một quãng đường dài để ra khỏi khu vực hoang sơ đó. Một ngôi nhà biệt lập cũng giống như một máy tính không kết nối vào Internet. Mặc dù một hacker có thể tiếp cận nơi ở của nạn nhân, đột nhập hẳn hòi vào nhà và lấy trộm thông tin trong máy tính của cô ta, nhưng làm như vậy sẽ phải tốn nhiều công sức mà lại quá mạo hiểm. Vấn đề ngược lại sẽ xảy ra cho những kết nối Internet “lúc nào cũng online” như kết nối bằng modem DSL hay modem cáp. Vì những kết nối như vậy luôn tạo sẵn con đường từ Internet vào máy tính của bạn, cho nên một hacker luôn có thể dễ dàng sờ mó đến các tài sản của bạn. Các port trên máy tính của bạn chính là các cửa sổ và cửa đi Các port chính là các “cổng” ảo mà qua đó thông tin đi vào và đi ra khỏi máy tính của bạn. Khi bạn kết nối vào Internet, có tới 65.534 port có thể dùng được. Điều này không có nghĩa là tất cả các port này đều mở hoặc đều được sử dụng; đơn giản chúng chỉ dành sẵn cho các chương trình trên máy của bạn khi cần đến. Khi máy tính của bạn kết nối vào Internet, một số port sẽ được mở mặc định (default port). Tuy nhiên, nhiều chương trình (ví dụ như một Web server hay một ftp server) sẽ mở thêm một số port nữa (extra port). Đa số trong các chương trình này luôn chạy ở những port mặc định và cố định (fixed port). Như thế, nếu một hacker tiếp cận và truy vấn về tất cả các port đang mở trên máy tính của bạn, anh ta có thể nói được dễ dàng danh mục các chương trình có liên quan đến Internet mà bạn đang chạy. Ví dụ, nếu bạn có một ftp server đang chạy thì port 21 sẽ mở. Có thể dễ dàng so sánh các port với các cửa đi và cửa sổ của một ngôi nhà. Mỗi ngôi nhà đều có sẵn một bộ gồm các cửa đi và cửa sổ. Có cửa sau, cửa trước, cửa nhà xe, và thường có cả cửa hông nữa. Việc đầu tiên mà các tên trộm thường tìm kiếm là một lối đột nhập dễ dàng. Không cần phải phá lỗ trên tường, khi mà một cửa đi hoặc một cửa sổ là đủ để vào. Đấy là những gì mà một hacker sẽ làm khi anh ta rà quét (scan) để tìm những port đang mở trên máy tính của bạn. Hacker tìm kiếm các port đang mở và có thể truy cập được. Tuy nhiên, với một port đang mở thì chưa chắc một hacker có thể chui vào được. Để có thể “hack” được, port này phải có cho phép truy cập. Ví dụ, mỗi lúc bạn kết nối với microsoft.com, máy tính của bạn thực ra đã kết nối với port 80 trên máy server của Microsoft. Dù sao đi nữa, bạn cũng không thể làm gì được ngoài chuyện đọc các trang Web thông qua port này. Điều đó bảo vệ các thông tin của Web server khỏi bị các hacker quậy phá. Nếu microsoft.com cho phép những người lướt Web (surfer) xóa hoặc thay đổi nội dung trang Web, chắc microsoft.com không giữ được trang Web của mình lâu như vậy. Nếu chương trình Web server bị cấu hình sai (misconfigure), hoặc nếu có một lỗi về lập trình trong phần mềm Web server, các hacker có thể chiếm quyền truy cập trái phép. Phần mềm bị cấu hình sai có thể so sánh với một cửa đi hoặc một cửa sổ quên khóa. Ăn trộm không phải bao giờ cũng “khoét vách” để vào nhà. Thay vào đó, đầu tiên họ sẽ tìm cửa sổ hoặc cửa đi không khóa để vào cho dễ. Phần mềm bị cấu hình sai thường luôn là mục tiêu tấn công của các hacker Internet. Đường và xa lộ Internet Du hành trên Internet có thể là chuyện nhỏ mà cũng có thể là chuyện lớn. Một máy tính của người dùng có thể lang thang đến cách nó vài dặm, hoặc cũng có thể đi tuốt đến bên kia trái đất. Nó có thể cũng đơn giản giống như lái xe đến nhà một người bạn ở cách năm dặm, hay là gửi một thông tin kỹ thuật số ở khoảng cách gần. Khi khoảng cách tăng lên, việc kết nối bắt đầu phức tạp lên theo. Ví dụ, để đi mua sắm ở một khu thương xá, bạn có thể chỉ cần ra khỏi nhà, ra đường nhánh, quẹo lên đường chính để lên xa lộ, chạy đến lối rẽ vào khu thương xá, qua cổng, đậu xe vào bãi. Quá trình cũng diễn ra tương tự khi máy tính gửi thông tin đi trên Internet. Khi bạn yêu cầu một trang Web, sự việc xảy ra giống như bạn gửi đi nhiều toa xe nhỏ chứa thông tin. Những gói tin này đi dọc theo line điện thoại hoặc đường cáp đến nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), và sau đó sẽ được gửi tiếp ra một trong những đường cáp quang truyền tốc độ cao xuyên lục địa. Khi tín hiệu đến gần đích, nó nhảy khỏi đường cáp quang và đi đến ISP đang nắm giữ địa chỉ của trang Web; sau đó kết nối với máy Web server ta cần. Trong trường hợp này, lời yêu cầu một trang Web sẽ chỉ giống như vài chiếc xe hơi (gói tin nhỏ) đi đến địa chỉ mong muốn, trong khi dữ liệu trả về từ trang Web sẽ gồm rất nhiều toa xe. (còn tiếp) --------------------------------- Tài liệu tham khảo : Windows Internet Security - Protecting Your Critical Data (Seth Forgie & Dr. Cyrus Peikari) August 19 BẢO MẬT WEBSITE VỚI SSL CERTIFICATE CỦA VERISIGN.COMGiao thức Secure Socket Layer (SSL) được phát triển bởi Netscape, ngày nay giao thức Secure Socket Layer (SSL) đã được sử dụng rộng rãi trên hệ thống mạng nhằm mục đích xác thực và mã hoá thông tin giữa client và server. Cụ thể SSL được sử dụng để mã hóa cho tất cà các protocol hoạt động tại lớp Application như: HTTP, FTP, SMTP, POP, IMAP…
Bài lab bao gồm các bước: 1. Tạo file Request Certificate 2. Xin SSL Certificate từ VeriSign.com 3. Cấu hình Trusted Root Certification Authority 4. Import SSL Certificate cho Web Server 5. Kiểm tra kết quả July 24 CÀI ĐẶT VÀ CẤU HÌNH SHAREPOINT SERVICE 3.0-PHẦN I: CÀI ĐẶT SHAREPOINT SERVICES TRÊN WINDOWS SERVER 2008Trong bài viết “Tổng quan SharePoint Services 3.0 và Micrsoft Office SharePoint 2007 ” đã giới thiệu với các bạn các tính năng của SharePoint Services 3.0 và Micrsoft Office SharePoint 2007 hỗ trợ cho các nhu cầu trong một hệ thống mạng doanh nghiệp. Nhằm mục đích thấy rõ các tính năng của SharePoint Services 3.0, trong bài viết này sẽ giới thiệu cách cài đặt và cấu hình SharePoint Services 3.0 trên Windows Server 2008 Phần I bao gồm các bước: 1. Cài đặt Web Server(IIS) 2. Cài đặt Microsoft .Net Framework và Windows Internal Database 3. Cài SharePoint Sevice 3.0 SP1 4. Tạo Group và phân quyền July 23 TỔNG QUAN WINDOWS SHAREPOINT SERVICES 3.0 VÀ MICROSOFT OFFICE SHAREPOINT SERVER 2007Windows SharePoint Services 3.0 (Version 3) xây dựng trên các dịch vụ hệ điều hành và cơ sở dữ liệu để hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho từ 1 trang làm việc nhóm đến 1 portal của doanh nghiệp với hơn 100.000 nhân viên (như Office SharePoint Portal Server 2007), hoặc một portal cộng tác trên Internet với cả triệu người dùng. 1. Storage - Lưu trữ 2. Management - Quản lý 3. Deployment - Triển khai 4. Site Model - Mô hình Site 5. Extensibility - Khả năng mở rộng July 08 Flash Video Files (.flv) and IISSau định dạng .SWF (Shockwave Flash) là định dạng .FLV (Flash Video) ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên với một Server Windows sử dụng IIS thì mặc định chỉ hiểu và hiển thị .SWF chứ không hiểu .FLV, muốn trang web xuất được định dạng này bạn cần phải khai báo MIME (Multipurpose Internet Mail Extensions) trong IIS. - Chọn site cần cấu hình, R.Click chọn "Properties" - Bên dưới tab HTTP Headers, chọn "File Types" - Trong File Types chọn "New Type" và khai báo : + Associated extension : .flv + Content type (MINE) : video/x-flv - Restart lại IIS. Bạn có thể khai báo các loại MINE khác, tham khảo tại đây July 03 TỔNG QUAN VỀ IPv6 (IPv6 Overview)I- GIỚI THIỆU CHUNG Hệ thống địa chỉ IPv4 hiện nay không có sự thay đổi về cơ bản kể từ RFC 791 phát hành 1981. Qua thời gian sử dụng cho đến nay đã phát sinh các yếu tố như : - Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống Internet dẫn đến sự cạn kiệt về địa chỉ Ipv4 - Nhu cầu về phương thức cấu hình một cách đơn giản - Nhu cầu về Security ở IP-Level - Nhu cầu hỗ trợ về thông tin vận chuyển dữ liệu thơi gian thực (Real time Delivery of Data) còn gọi là Quality of Service (QoS) - … Dựa trên các nhược điểm bộc lộ kể trên, hệ thống IPv6 hay còn gọi là IPng (Next Generation : thế hệ kế tiếp) được xây dựng với các điểm chính như sau : 1- Đinh dạng phần Header của các gói tin theo dạng mới Các gói tin sử dụng Ipv6 (Ipv6 Packet) có cấu trúc phần Header thay đổi nhằm tăng cương tính hiệu quả sử dụng thông qua việc dời các vùng (field) thông tin không cần thiết (non-essensial) và tùy chọn (Optional) vào vùng mở rộng (Extension Header Field) 2- Cung cấp không gian địa chỉ rộng lớn hơn 3- Cung cấp giải pháp định tuyến (Routing) và định vị địa chỉ (Addressing) hiệu quả hơn -Phương thức cấu hình Host đơn giản và tự động ngay cả khi có hoặc không có DHCP Server (stateful / stateless Host Configuration) 4- Cung cấp sẵn thành phần Security (Built-in Security) 5- Hỗ trợ giải pháp Chuyển giao Ưu tiên (Prioritized Delivery) trong Routing 6- Cung cấp Protocol mới trong việc tương tác giữa các Điểm kết nối (Nodes ) 7- Có khả năng mở rộng dễ dàng thông qua việc cho phép tạo thêm Header ngay sau Ipv6 Packet Header
II- ĐỊA CHỈ IPv6 1- Không gian địa chỉ IPv6 Địa chỉ IPv6 (IPv6 Adddress) với 128 bits địa chỉ cung cấp khối lượng tương đương số thập phân là 2128 hoặc 340,282,366,920,938,463,463,374,607,431,768,211,456 địa chỉ so với IPv4 với 32 bits địa chỉ cugn cấp khối lượng tương đương số thập phân là 232 hoặc 4,294,967,296 địa chỉ
2-Hình thức trình bày IPv6 Address gồm 8 nhóm, mỗi nhóm 16 bits được biểu diển dạng số Thập lục phân (Hexa-Decimal)
Vd-1 : 2001:0DB8:0000:2F3B:02AA:00FF:FE28:9C5A (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Co thể đơn giản hóa với quy tắc sau : - Cho phép bỏ các số không (0) nằm phía trước trong mỗi nhóm - Thay bằng 1 số 0 cho nhóm có giá trị bằng không - Thay bằng :: cho các nhóm liên tiếp có giá trị bằng không Như vậy địa chỉ ở Vd-1 có thể viết lại như sau : Vd-2 : 2001:DB8:0:2F3B:2AA:FF:FE28:9C5A Vd-3 : địa chỉ = FE80:0:0:0:2AA:FF:FE9A:4CA2 Có thể viết lại = FE80::2AA:FF:FE9A:4CA2 (*) Lưu ý : phần Giá trị đầu (Prefix) được xác định bởi Subnet Mask IPv6 tương tự IPv4 Vd-4 : 21DA:D3::/48 có Prefix = 21DA:D3:0 (48 bits) hoặc 21DA:D3:0:2F3B::/64 có Prefix = 21DA:D3:0:2F3B ( 64 bits)
3-Các loại IPv6 Address a- Unicast Unicast Address dùng để định vị một Interface trong phạm vi các Unicast Address. Gói tin (Packet) có đích đến là Unicast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến 1 Interface duy nhất b- Multicast Multicast Address dùng để định vị nhiều Interfaces. Packet có đích đến là Multicast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến tất cả các Interfaces có cùng Multicast Address c-Anycast Anycast Address dùng để định vị nhiều Interfaces. Tuy vậy, Packet có đích đến là Anycast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến một Interfaces trong số các Interface có cùng Anycast Address, thông thường là Interface gần nhất (khái niệm Gần ở đây được tính theo khoảng cách Routing) Trong các trường hợp nêu trên, IPv6 Address được cấp cho Interface chứ không phải Node, một Node có thể được định vị bởi một trong số các Interface Address IPv6 không có dạng Broadcast, các dạng Broadcast trong IPv4 được xem như tương đương Multicast trong Ipv6
4-Các loại IPv6 - Unicast Address IPv6 Unicast Address gồm các loại : · Global unicast addresses · Link-local addresses · Site-local addresses · Unique local IPv6 unicast addresses · Special addresses a-Global unicast addresses (GUA) GUA là địa chỉ IPv6 Internet (tương tự Public IPv4 Address). Phạm vi định vị của GUA là tòan bộ hệ thống IPv6 Internet (RFC 3587) 001 : 3 bits đầu luôn có giá trị = 001 nhị phân (Binary – bin) (Prefix = 001 /3) Global Routing Prefix : gồm 45 bits. Là địa chỉ được cấp cho một tổ chức, Công ty / Cơ quan ..(Organization) khi đăng ký IPv6 Internet Address (Public IP) Subnet ID : gồm 16 bits. Là địa chỉ tự cấp trong tổ chức để tạo các Subnets Interface ID : gồm 64 bits. Là địa chỉ của Interface trong Subnet Có thể đơn giản hóa thành dạng như sau (Global Routing Prefix = 48 bits)
b-Link-local addresses (LLA) LLA là địa chỉ IPv6 dùng cho các Nodes trong cùng Link liên lạc với nhau (tương tự các địa chỉ IPv4 = 169.254.X.X). Phạm vi sử dụng của LLA là trong cùng Link (do vậy có thể bị trùng lặp trong các Link) Khi dùng HĐH Windows, LLA được cấp tự động với cấu trúc như sau : 64 bits đầu = FE80 là giá trị cố định (Prefix = FE80 :: / 64)
Interface ID = gồm 64 bits . Kết hợp với Physical Address của Netwoprk Adapter (nói ở phần sau) c-Site-local addresses (SLA) SLA tương tự các địa chỉ Private IPv4 (10.X.X.X, 172.16.X.X, 192.168.X.X) được sử dụng trong hệ thống nội bộ (Intranet). Phạm vi sử dụng SLA là trong cùng Site. (*) Site : là khái niệm để chỉ một phần của hệ thống mạng tại các tọa độ địa lý khác nhau 1111 1110 11 = 10 bits đầu là giá trị cố định (Prefix = FEC0 /10) Subnet ID : gồm 54 bits dùng để xác địng các Subnets trong cùng Site
Interface ID : gồm 64 bits. Là địa chỉ của Interfaces trong Subnet
d-Unique- local addresses (ULA) Đối với các Organization có nhiều Sites, Prefix của SLA có thể bị trùng lặp. Có thể thay thể SLA bằng ULA (RFC 4193), ULA là địa chỉ duy nhất của một Host trong hệ thống có nhiều Sites với cấu trúc: 111 110 : 7 bits đầu là giá trị cố định FC00/7. L=0 : Local à Prefix =FC00 /8 Glocal ID : địa chỉ Site (Site ID). Có thể gán tùy ý Subnet ID : địa chỉ Subnet trong Site Với cấu trúc này, ULA sẽ tương tự GUA và khác nhau ở phần Prefix như sau : e- Các địa chỉ đặc biệt (Special addresses) Các địa chỉ đặc biệt trong IPv6 gồm : 0:0:0:0:0:0:0:0 : địa chỉ không xác định (Unspecified address) 0:0:0:0:0:0:0:1 : địa chỉ Loopback (tương đương IPv4 127.0.0.1) IPv4-Cpompatible Address (IPv4CA) : Format : 0:0:0:0:0:0:w.x.y.z Trong đó w,x,y,z là các IPv4 Address Vd : 0:0:0:0:0:0:0:192.168.1.2 IPv4CA là địa chỉ tương thích của một IPv4/IPv6 Node. Khi sử dụng IPv4CA như một IPv6 Destination, gói tin sẽ được đóng gói (Packet) với IPv4 Header để truyền trong môi trường IPv4 IPv4-mapped address (IPv4MA) Format : 0:0:0:0:0:FFFF:w.x.y.z (::FFFF:w.x.y.z) Trong đó w,x,y,z là các IPv4 Address Vd : 0:0:0:0:0:FFFF:192.168.1.2 IPv4MA là địa chỉ của một IPv4 Only Node đối với một IPv6 Node, IPv4MA chỉ có tác dụng thông báo và không được dùng như Resource hoặc Destination Address 6to4 Address
Là địa chỉ sử dụng trong liên lạc giữa các IPv4/IPv6 nodes trong hệ thống hạ tầng IPv4 (IPv4 Routing Infrastructure). 6to4 được tạo bởi Prefix gồm 64 bits như sau : Prefix = 2002/16 + 32 bits IPv4 Address =64 bits 6to4 Address là địa chỉ của Tunnel (Tulneling Address) định nghĩa bởi RFC 3056 5-Các loại IPv6 - Multicast Address Multicast Address của IPv6 Node có họat động tương tự Maulticast trong IPv4. Một IPv6 Node có thể tiếp nhận tín hiệu của nhiều Multicast Address cùng lúc. IPv6 Node có thể tham gia hoặc rời khỏi một IPv6 Multicast Address bất kỳ lúc nào Ví dụ về một số IPv65 Multicast Address được sử dụng : FF01::1 (interface-local scope all-nodes multicast address) FF02::1 (link-local scope all-nodes multicast address) FF01::2 (interface-local scope all-routers multicast address) FF02::2 (link-local scope all-routers multicast address) FF05::2 (site-local scope all-routers multicast address) Solicited-Node Address (SNA)Là địa chỉ sủ dụng trong quy trình phân giải để cấp địa chỉ LLA (Link-Local Address) tự động cho các Node (tương tự quy trình tự cấp địa chỉ 169.254.X.X trong IPv4) SNA có dạng : FF02:0:0:0:0:1:FF / 104 + 24 bits địa chỉ MAC 6-Các loại IPv6 - Anycast Address Anycast Address có thể gán cho nhiều Interfaces, gói tin chuyển đến Anycast Address sẻ được vận chuyển bởi hệ thống Routing đến Interface gần nhất. Hiện nay, Anycast Address chỉ được dùng như Destination Address và gán cho các Router IPv6 - Interface ID Trong tất cả các loại địa chỉ nói trên đều có giá trị Interface ID dùng để xác định Interface. Giá trị Interface ID được xem xét và tạo nên theo các yếu tố sau : - Xác định bởi Extended Unique Identifier (EUI)-64 Address (*) . EUI-64 Address có thể do gán hoặc kết hợp với MAC (physical) Address của Network Adapter (Window XP / Windows 2k3) - Được gán tạm thời với giá trị ngẫu nhiên (**) (RFC 3041) - Được tạo thành bởi Link-layer address hoặc Serial Number khi cấu hình Point-to-Point Protocol (PPP) - Tự cấp (manual address configuration) - Là một giá trị phát sinh ngẫu nhiên và gán thường trực cho Interface (Windows Vista / LogHorn) Extended Unique Identifier (EUI)-64 Address (*) EUI-64 Address xác định phưong thức tạo 64 bits Interface ID bằng cách kết hợp Mac Address của Network Adapter (48 bits) theo quy tắc như sau : Mac Address = 6 nhóm 8 bits = 48 bits. Trong đó 24 bits là mã nhà sản xuất, 24 bits là mã số Adapter Bước 1 : Tách đôi MAC Address làm 2 nhóm (mổi nhóm 24 bits), chèn vào giữa 16 bits giá trị FFFE Bước 2 : Đảo ngược giá trị bit thứ 7 của nhóm đầu Ví dụ : Network Adapter có MAC address = 00-AA-00-3F-2A-1C Bước 1 à 00-AA-00-FF:FE-3F-2A-1C Bước 2 à 02-AA-00-FF-FE-3F-2A-1C à Interface ID = 02AA:00FF:FE3F:2A1C (64 bits) June 29 Dùng certificate để verify Webserver và mã hóa dữ liệu trao đổi trên Web (HTTPS)1. SSL là gì ? Client vào trang web của www.amazon.com để mua sách và trả tiền bằng thẻ tín dụng. với protocol HTTP chạy ở port 80, mọi thông tin gửi và nhận trên đường truyền đều ở dạng clear text. Nhưng trên Internet có vô số kẻ xấu, luôn rình rập đẻ sniff các thông tin (capture hòng lấy được user name, password, số credit card…). Vì vậy, trong các giao dịch trên internet, cụng là web nhưng phải mã hóa dữ liệu. lúc đó sẽ sử dụng HTTPS chạy ở port 443, và phải có key để mã hóa. Có ba cơ chế phát sinh key đã biết : - Preshared key : không dùng được trong trường hợp này, vì client và Amazon là 2 người xa lạ. - Kerberos : càng không được vì client và Amazon không ở cùng một domain. - Certificate Authority (CA) : dường như là tốt, nhưng thật ra là dư. Dư vì nếu dùng certificate, hai bên có thể verify lẫn nhau. ở đây đang chỉ có nhu cầu verify một chiều – tức chỉ có client đang cần verify Web-server xem có đúng là Amazon không, trước khi dùng key nào đó mã hóa các thông tin nhạy cảm để gởi đi. Công ty Netspace đã cung cấp một tiêu chuẩn mã hóa dữ liệu dùng trong trường hợp này. Đó là SSL (Secure Socket Layer). Trong SSL, giả định rằng chỉ cần server có certificate là đủ, client không cần. Nhưng nếu client không có certificate, làm sao hai bên trao đổi key được ? Quá trình trao đổi key diễn ra trong 6 bước : B1. Client chủ động phát sinh một “Key”. B2. Client yêu cầu Webserver gửi certificate của Webserver. B3. Nhận được certificate của Webserver, client kiểm tra tính toàn vẹn của public key “pa”. B4. Nếu “pa” còn tốt, client đem “Key” mã với “pa”, ra được “Cipher”. B5. Client gửi “Ciper” cho Webserver. B6. Webserver dùng private key “qa” của mình để giải mã “Cipher” ra lại “Key”. Nói cách khác, SSL (Secure Socket Layer) là loại CA đặc biệt, verify một chiều. Sáu bước vừa trình chỉ để hiểu bản chất vấn đề. Trong thực tế, để chạy được SSL, Web-server chủ cần đi xin sẵn một certificate là đủ. Còn đối với client, gần như là trong suốt, cứ việc gõ https thay vì http hoặc người Administrator có thể cấu hình redirect sẵn trên webserver, client chỉ việc gõ http là vào https . 2. Bài LAB - Cài đặt IIS (Internet Information Services) và tạo trang web defauft, truy cập bằng http://localhost/ bình thường. Nhưng truy cập theo https://localhost/ sẽ không được. - Đi xin certificate cho Webserver : chạy IIS Manager, vào Web Sites, chọn Default Web Site Properties – tab Directory Security – mục Secure Commnunications – Nút Server Certificate và làm theo wizzard. - Sau khi xin certificate thì xem lại bằng nút View Certificate. - Client truy cập lại trang web default bằng https://localhost/ sẽ có thông báo về security nhưng không quan trọng, chọn nút Yes sẽ truy cập tốt. Trong thực tế, client có thể chọn nút View Certificate để xem certificate của Web-server, nhất là xem Root CA. Nếu Root CA của Web-server chưa nằm trong trusted list, client phải add certificate của Root Ca vào trusted list bằng tay. Lúc đó, nếu đúng là Web-server tin tưởng được thì chọn nút Yes để tiếp tục trao đổi thông tin. June 27 Phim lab cài đặt, cấu hình và quản lý Windows Server 2003 Active Diectory - Phần 1Phần 1: Triển khai nhiều server chạy song song trên Windows Server 2003 AD Nội dung của phim lab là hướng dẫn triển khai cài đặt vả cấu hình hệ thống AD có nhiều Domain Controller, Global Catalog Server và DNS Server chạy song song. Phim lab gồm các bước : 1. Nâng cấp Primary Domain Controller TRIỂN KHAI ISA FIREWALL CHO HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP - PHẦN 2: ACCESS RULESTiếp theo phần 1, sau khi các bạn đã cài đặt thành công ISA Server 2006, các bạn cần phải tạo ra các Access Rule để quản lý mọi gói tin ra vào hệ thống. Trong phần 2 sẽ hướng dẫn cách tạo các Access Rule phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp hiện nay. Bài lab bao gồm các bước: 1. Kiểm tra Default Rule 2. Tạo rule truy vấn DNS để phân giải tên miền 3. Tạo rule cho phép các user thuộc nhóm Manager truy cập Internet không hạn chế 4. Tạo rule cho phép các user thuộc nhóm Staff chỉ được phép truy cập 1 số trang web trong giờ hành chánh 5. Tạo rule cho phép các user thuộc nhóm Staff được truy cập web trong giờ giải lao, ngoại trừ trang ngoisao.net 6. Tạo rule cho phép user có thể kết nối mail yahoo bằng Outlook Express 7. Không cho nghe nhạc trực tuyến, cấm chat Yahoo Messenger, cấm download file có đuôi .exe 8. Cấm truy cập một số trang web, nếu truy cập sẽ tự động chuyển đến trang web cảnh báo của công ty TRIỂN KHAI ISA FIREWALL CHO HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP - PHẦN 1: CÀI ĐẶT ISA SERVER 2006ISA Server 2006 là phiên bản mới nhất của sản phẩm Microsoft ISA Server. Về giao diện thì ISA 2006 giống ISA 2004 đến 90%. Tuy nhiên, nó có những tính năng mới nổi trội hơn mà ISA 2004 vẫn còn hạn chế, chẳng hạn như: + Phát triển hỗ trợ OWA, OMA , ActiveSync và RPC/HTTP pubishing + Hổ trợ SharePoint Portal Server + Hổ trợ cho việc kết nối nhiều certificates tới 1 Web listener + Hỗ trợ việc chứng thực LDAP cho Web Publishing Rules +… Ở phần 1 này, các bạn sẽ bắt đầu làm quen với ISA Firewall thông qua việc cài đặt ISA Server 2006 Bài lab bao gồm các bước: 1. Cài đặt ISA Server 2006 2. Cài đặt và cấu hình Firewall Client 3. Cấu hình Auto Discovery 4. Tạo Access Rule để kiểm tra kết nối Internet June 21 Authentication
Cốc cốc cốc Bạn có đang nhớ về tuổi thơ của mình như tôi? Ừh, nhớ thật đó. Nhưng mà tôi vô cái blog này không phải để đọc đồng dao, đây là blog bảo mật thông tin kia mà? Ấy bạn đừng nóng, nào hãy cùng ngồi xuống với tôi, uống một ngụm trà (và vài con nghêu hấp xã chẹp chẹp) rồi ta cùng đi vào chủ đề chính nào.
Vụ án Directory Services Restore Mode
Sự thật về vụ án Cu Tèo và các tiếng hét cũng như các lời đồn đãi như thế nào, xin quí vị xem tiếp sẽ rõ
SỰ THẬT VỀ VỤ ÁN VÀ CÁC SỰ KIỆN Tiếng hét thứ nhất : "Tui chưa chết mà sao Bác sĩ đòi hồi sinh, hồi sức cho tui ?"
Tiếng thét hãi hùng này là của bà Ắc-ti Đai-réc-tri lúc bà đang còn khỏe mạnh, chạy nhảy đùng đùng, không hề bị tê liệt, nhưng Bác Sĩ Đồ-men Át-min lại định đè ra làm vật lý trị liệu nhằm phục hồi chức năng vận động.
Tiếng hét thứ hai : "Bác sĩ ơi, con em bị liệt rồi !"
Lời đồn thứ hai : "Uống thuốc DSRM thì hồn lìa khỏi xác, lúc đó muốn làm gì xác thì làm". Lời đồn này quá chính xác, nhưng Bác sĩ Đồ-men Át-min dù đã được xem phim về hai tiếng thét hãi hùng trước rồi, vẫn không chịu để ý. Đúng ra khi thấy bà Ắc-ti Đai-réc-tri liệt rồi, ông Đồ-men Cồng-tron-lơ mặt mày thấy ghê thì Bác sĩ phải cho ông này uống tiếp liều thuốc giải BK. Uống thuốc giải BK đúng cách thì Cu Tèo chắc chắn được cứu sống, không qua đời thảm thương như vậy.
Qua bài viết này bạn rút ra được gì ? Cái cần thiết của một Domains Administrator là phải luôn luôn chạy backup System State, đến khi Active Directory có sự cố thì cứ lôi file backup ra và sẽ có cách cứu mạng
|
|
|