Hieu 的个人资料DaoDuyHieu's Blog - Than...照片日志列表更多 工具 帮助

日志


2月16日

Giải mã MCSA (phần 1)

Nhiều người đã từng nghe nói đến MCP (Microsoft Certified Professional), nhưng vẫn còn khá nhiều người chưa biết MCSA là gì, “mặt mũi” ra sao? Bài viết này xin phác họa vài nét về chứng chỉ này nhằm giúp bạn đọc có thêm thông tin.

Nhiều “tracks” và “specializations”

Trên website của Microsoft, MCSA (Microsoft Certified Systems Administrator) được giới thiệu là “chứng chỉ giúp nâng cao sự nghiệp của bạn thông qua việc khẳng định bạn có đủ kỹ năng để quản lý và chẩn đoán hỏng hóc những hệ thống chạy hệ điều hành Windows”. Nói nôm na, MCSA là chứng chỉ xác nhận khả năng quản trị mạng (của Microsoft). Hiện nay, bạn có hai chọn lựa về công nghệ (theo hệ điều hành): Windows 2000 hoặc Windows Server 2003.

Ứng với hai công nghệ nêu trên, bạn có hai “nhánh” (track) MCSA, mỗi nhánh yêu cầu những môn thi khác nhau. Mặc dù Microsoft vẫn công nhận “MCSA on Windows 2000”, nhưng có lẽ các bạn nên nhắm đến công nghệ mới hơn, vì bản thân chính Windows Server 2003 chẳng bao lâu nữa cũng trở thành “lạc hậu”. Do đó, chúng tôi không đi sâu giới thiệu “nhánh” cũ.

Nhánh “MCSA on Windows Server 2003” có ba hướng: MCSA “tổng quát” (gọi tắt là MCSA), MCSA chuyên biệt về truyền tin (gọi là MCSA: Messaging), MCSA chuyên biệt về bảo mật (gọi là MCSA: Security). Những hướng chuyên biệt (specialization) nhằm xác định những kỹ năng thuộc một lĩnh vực chuyên sâu nhất định, đồng thời phục vụ nhu cầu thực tế đang cần những chuyên gia thông thạo các kỹ năng ấy.

Để lấy được chứng chỉ MCSA, bạn phải thi đậu bốn môn thi:

  • Hai môn thuộc nhóm “Networking System”: gồm Exam 70–290 (Managing and Maintaining a Microsoft Windows Server 2003 Environment) và Exam 70–291 (Implementing, Managing, and Maintaining a Microsoft Windows Server 2003 Network Infrastructure)
  • Một môn thuộc nhóm “Client Operating System”: là Exam 70–270 (Installing, Configuring, and Administering Microsoft Windows XP Professional)
  • Một môn tự chọn (gọi là elective exam), bạn có thể chọn môn về ISA Server hoặc SQL Server hoặc Exchange Server đều được.

Tên các môn thi khá dài, do đó mã số từng môn thường được dùng thay cho tên. Ngoài ra, bạn có thể dùng chứng chỉ MCDST hoặc cặp chứng chỉ A+ và Network+ của CompTIA để thay thế cho môn tự chọn (xem thêm tại http://www.microsoft.com/learning/mcp/mcsa/windows2003). Lệ phí thi tại Việt Nam hiện nay là 50USD/môn, vậy ít nhất bạn phải chi 200 USD để thi MCSA (với điều kiện là không.. rớt lần nào).

MCSA: Messaging yêu cầu bạn thi đậu bốn môn tương tự như MCSA “tổng quát”, riêng môn tự chọn thì bạn không được.. tự chọn nữa, mà phải thi Exam 70-284 (Implementing and Managing Microsoft Exchange Server 2003). Chứng chỉ này xác nhận bạn không chỉ đủ khả năng của một MCSA mà còn thông thạo về máy chủ phục vụ thư điện tử (mail server).

Riêng anh chàng MCSA: Security đòi hỏi nhiều hơn: bạn phải thi năm môn, trong đó ba môn đầu giống MCSA. Hai môn “tự chọn” phải là: Exam 70-299 (Implementing and Administering Security in a Microsoft Windows Server 2003 Network) và Exam 70-227 (Installing, Configuring, and Administering Microsoft Internet Security and Acceleration Server 2000). Quả thật cụm từ “môn tữ chọn” không còn đúng trong trường hợp này nữa.

Nhu cầu thực tế về MCSA

Nhiều bạn rất bối rối trước một rừng thông tin về chứng chỉ của Microsoft. Xin nói ngay: nếu bạn quan tâm đến lĩnh vực quản trị mạng thì chỉ cần tìm hiểu về MCP (mạng), MCSA và MCSE. Khi bạn thi đậu môn đầu tiên (để đạt được MCSA hay MCSE), bất kể đó là môn nào, bạn cũng được công nhận là MCP. Như vậy, cấp độ MCP không đủ cho những người thật sự quản trị một/nhiều mạng quy mô vừa và lớn.

Mặc dù đa số các bạn khi theo học đều muốn “đi đến cùng” – tức trở thành MCSE – nhưng điều đó không cần thiết cho số đông. Công việc hiện nay các nhà tuyển dụng đang cần nhiều đòi hỏi kỹ năng của MCSA, và khả năng ấy là “đủ xài”. Thực tế chỉ cần một số lượng MCSE không lớn, vì các doanh nghiệp cần người “quản trị” nhiều hơn là người “thiết kế” mạng.

(Còn tiếp)

Nguồn : bangcapquocte.com

GMAT là gì?

GMAT là dạng viết tắt của Graduate Management Admission Test. Đây là một bài thi bằng tiếng Anh trên máy tính. Chứng chỉ GMAT được cấp sau khi bạn hoàn thành tốt bài thi này có giá trị quốc tế.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 1.800 chương trình quản lý và kinh doanh sau đại học dùng GMAT là một tiêu chí tuyển sinh. Ví dụ nếu bạn muốn học thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA) ở Mỹ thì bạn phải có chứng chỉ GMAT. Đây cũng là chứng chỉ tin cậy có thể giúp bạn qua vòng “lọc hồ sơ” của rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài danh tiếng.

Bài thi GMAT có những phần gì ?

Bài thi GMAT gồm có 3 phần: toán, ngôn ngữviết. Phần toánngôn ngữ thi dưới hình thức trắc nghiệm. Thời gian thi là 210 phút (không tính 10 phút nghỉ giữa các phần).

Các phần của bài thi GMAT

Analytical writing (Viết)

- Analysis of an issue

- Analysis of an argument

Optional break

Quantitative (Toán)

- Problem solving

- Data sufficiency

Optional break

Verbal (Ngôn ngữ)

- Reading comprehension

- Critical reasoning

- Sentence correction

Thi GMAT ở đâu ?

Để đăng kí thi GMAT các bạn vào website www.mba.com -> REGISTER để đăng kí lịch thi và địa điểm thi.

- Lệ phí thi: $250

- Phí yêu cầu phiếu điểm: $28

- Phí đổi ngày thi: $50

- Thời hạn hiệu lực: 5 năm

Bài thi TOEIC®—chuẩn toàn cầu đánh giá trình độ Tiếng Anh.

Câu hỏi trong bài thi TOEIC được viết bởi các nhà giáo dục và các chuyên gia giàu kinh nghiệm thuộc tổ chức độc lập và phi lợi nhuận ETS, và được sử dụng để đánh giá các kỹ năng nghe và đọc, cũng như nói và viết tiếng Anh. Các câu hỏi trong bài thi được dựa trên các bối cảnh và tình huống thực – bao gồm rất nhiều lĩnh vực: giải trí, du lịch, tài chính, sản xuất, nhân sự, kinh doanh nói chung và nhiều lĩnh vực khác.

Bài thi TOEIC là cộng cụ đánh giá công bằng, khách quan và rất đáng tin cậy về trình độ tiếng Anh hiện tại của người dự thi.

Hãy xem độ tin cậy và tiêu chuẩn của bài thi TOEIC của ETS tại đây.

Tìm hiểu về các dạng bài thi TOEIC
Tùy thuộc vào nhu cầu cụ thể của mỗi doanh nghiệp hay mỗi tổ chức, ETS cung cấp công cụ đánh giá toàn diện bao gồm Nghe & Đọc và Nói & Viết.

Bài thi Nghe và Đọc TOEIC
Bài thi Nghe và Đọc TOEIC đánh giá khả năng nghe và đọc tiếng Anh thông qua các ngữ cảnh khác nhau trong môi trường kinh doanh thực tế.

Hoạt động kinh doanh toàn cầu đòi hỏi phải có kỹ năng giao tiếp tiếng Anh tốt. Ngoài ra, các nhân viên của bạn cũng cần nắm vững tiếng Anh để họ có thể giao tiếp hiệu quả trong môi trường làm việc quốc tế.

Bài thi Nghe và Đọc TOEIC được thực hiện bằng giấy và bút chì tại các địa điểm thi thuận tiện hoặc ngay tại các công ty trên khắp thế giới.

Tham khảo bài thi Nghe và Đọc TOEIC tại đây.
Xem các câu trả lời cho các câu hỏi thường gặp về bài thi Nghe và Đọc.

Bài thi Nói và Viết TOEIC
Các bài thi Nói và Viết TOEIC mới đánh giá khả năng nói và viết tiếng Anh trong môi trường làm việc bằng cách sử dụng các mẫu câu cơ bản và vốn từ vựng phổ thông được sử dụng hàng ngày.

Trên thị trường toàn cầu ngày nay, các nhân viên cần phải có kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ tốt. Hơn bao giờ hết, họ phải có khả năng giao tiếp hiệu quả bằng tiếng Anh—vượt qua mọi biên giới và sự khác biệt về văn hóa – có thể thông qua email, nói chuyện trực tiếp, bằng điện thoại hay qua hội nghị truyền hình.

Các bài thi Nói và Viết luôn sẵn sàng và được cung cấp thông qua đường truyền internet an toàn của các trung tâm khảo thí.

Nguồn : Bangcapquocte.com

IELTS là gì?

IELTS là viết tắt của các chữ International English Language Testing System (Hệ thống thi trắc nghiệm tiếng Anh Quốc tế). Sở dĩ có hệ thống thi cử này là vì các trường Đại học ở các nước nói tiếng Anh như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada… sử dụng tiếng Anh là chuyển ngữ, do vậy yêu cầu đầu tiên nhập học là sinh viên phải đạt đến trình độ tiếng Anh nào đó để có thể nghe giảng, đọc sách, làm bài tập và tham gia các hoạt động giáo dục khác. Nói đơn giản, IELTS là công cụ đánh giá về khả năng ngôn ngữ về nghe, nói, đọc, viết của các du học sinh xem họ có thể học tập, làm việc bằng tiếng Anh trong môi trường nói tiếng Anh được không.

india-exams-ielts-format

Ngoài IELTS, còn có các hệ thống kiểm tra tiếng Anh khác như TOEFL (Kiểm tra trình độ ngoại ngữ tiếng Anh), CFC (chứng chỉ tiếng Anh của trường ngoại ngữ Cambrige)…

Các trường Đại học ở các nước thuộc khối liên hiệp Anh sử dụng IELTS như một phương tiện kiểm tra chính thức đồng thời cũng chấp nhận kết quả của các hệ thống thi cử khác, trong khi đó các trường Đại học ở Mỹ chủ yếu sử dụng hệ thống kiểm tra TOEFL. Một trong những lý do IELTS được sử dụng rộng rãi là vì hệ thống thi này nhấn mạnh vào việc kiểm tra các kỹ năng ngôn ngữ. Và như vậy tức là nó chuẩn bị cho thí sinh các kỹ năng cần thiết để đáp ứng các yêu cầu của nhà trường. Chẳng hạn bài thi viết đặt yêu cầu mô tả và lập luận hiển nhiên rèn luyện kỹ năng nhận xét và tư duy tuyến tính, mà thiếu nó thì sinh viên gặp rất nhiều khó khăn trong khi viết luận văn của mình. Bài thi đọc có những yêu cầu về tìm ý chính, ý chi tiết, tóm tắt nội dung, khái quát thông tin, tìm số liệu, suy diễn… Tất cả đều rất cần thiết cho việc hình thành và phát triển kỹ năng nghiên cứu của sinh viên. Bài thi nghe và nói giúp cho sinh viên kỹ năng giao tiếp trong môi trường bản ngữ tự nhiên: Nghe, giảng bài, tranh luận, xem TV, tham gia các hoạt động ngoại khoá sinh viên…Tóm lại hệ thống chuẩn bị rất toàn diện để sinh viên học tập và sinh hoạt phù hợp với môi trường học tập và nghiên cứu. Với những ưu điểm này IELTS vượt trội hơn TOEFL mà trọng tâm của nó là kiến thức ngôn ngữ. Chính vì giao tiếp và lấy việc rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ trên cơ sở trau dồi kiến thức ngôn ngữ làm mục đích là nơi bạn cần đến. Ai dạy và dạy như thế nào là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của bạn. Cần tránh xa những nơi tầm chương, trích cú, phân tích câu, luyện ngữ pháp, thầy giảng trò nghe ghi…. Đấy không phải là cách dạy và học ngoại ngữ hiệu quả. Yếu tố người học vẫn là quan trọng nhất. Bạn phải chủ động và mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ trong lớp học cũng như ở nhà. Học ngoại ngữ theo quan niệm mới là quá trình học từ việc giao tiếp cho dù là trong quá trình giao tiếp đó bạn mắc lỗi. Song chính việc nhận ra lỗi sẽ là yếu tố thúc đẩy quá trình nắm ngôn ngữ của bạn.

Có được trình độ tiếng Anh bạn vừa có lợi thế về học lực tại điểm xuất phát, vừa tiết kiệm được thời gian và tiền của để học tiếng Anh ở khoá học dự bị Đại học ở nước ngoài.

[theo BKTIT Academy]

Các dạng thi TOEFL

TOEFL trên Internet (iBT)

Đây là bài thi TOEFL thế hệ mới, sử dụng Internet để chuyển đề thi từ ETS về đến trung tâm tổ chức thi. Kể từ khi được giới thiệu vào cuối năm 2005, TOEFL iBT đang từng bước thay thế hoàn toàn dạng thi trên giấy (PBT) và dạng thi trên máy tính (CBT). Kỳ thi đã được tổ chức ở các quốc gia Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Ý vào năm 2005 và các quốc gia khác vào năm 2006.

Bài thi TOEFL kéo dài trong 4 giờ và gồm có 4 phần, đòi hỏi thí sinh phải sử dụng thành thạo 4 kỹ năng. Nội dung của bài thi tập trung vào việc sử dụng tiếng Anh trong môi trường đại học hoặc cao học. Trong khi làm bài thí sinh có thể ghi chú.

  1. Nghe: khoảng 34-50 câu hỏi, kéo dài từ 50-90 phút.
    Có hai hình thức của bài nghe: dạng bài thi dài và ngắn. Ở dạng thi dài, thí sinh sẽ phải nghe và trả lời câu hỏi cho 3 đoạn hội thoại và 6 bài giảng văn. Dạng thi ngắn gồm 2 đoạn hội thoại và 4 bài giảng.
    Nội dung các bài nghe lấy trong bối cảnh của một trường đại học hay cao đẳng ở một nước nói tiếng Anh.
  2. Nói: gồm 6 bài nói.
    2 bài đầu là hình thức bài nói riêng (Independent Task) về một đề tài quen thuộc trong xã hội và sinh hoạt hằng ngày. Thí sinh có 45 giây để nói.
    4 bài nói tiếp theo là bài nói tích hợp (Integrated Task). Thí sinh phải nghe một đoạn hội thoại hay một bài thuyết giảng và sau đó trả lời dựa theo câu hỏi đưa ra có liên quan đến đoạn hội thoại hay bài thuyết giảng. Ờ phần này, thí sinh có 60 giây để nói.
  3. Đọc: cũng có hai hình thức là dài và ngắn.
    Ở dạng dài, thí sinh sẽ trả lời câu hỏi về 5 bài đọc trích từ các sách giáo khoa của trường đại học hoặc cao đẳng ở Bắc Mỹ. Ở dạng ngắn, thí sinh phải trả lời câu hỏi về 3 bài đọc cũng có độ dài từ 700-750 từ nhưng với thời gian ngắn hơn là 60 phút (so với 100 phút của dạng dài).
  4. Viết: gồm 2 bài viết.
    Bài thứ nhất là dạng Integrated Task. Thí sinh phải đọc một đoạn văn sau đó nghe một bài thuyết giảng rồi tóm tắt lại và nêu mối quan hệ giữa đoạn văn và bài thuyết giảng. Bài viết phải vào khoảng 150-225 từ. Thí sinh có 20 phút để viết.
    Bài thứ hai là dạng Independant Task về một đề tài trong xã hội. Bài viết phải vào khoảng 300-350 từ. Thí sinh có 35 phút để viết.

TOEFL trên máy tính (CBT)

TOEFL trên máy tính (CBT) được tổ chức đầu tiên vào ngày 30 tháng 9 năm 2006. Bài thi cũng được chia ra làm 4 phần : nghe, cầu trúc ngữ pháp, đọc hiểu và viết. Trong lúc làm bài thí sinh không được phép ghi chú.

  1. Phần nghe (45-70 phút).
    gồm 2 dạng: thí sinh sẽ nghe những đoạn đối thoại giữa 2 hoặc nhiều người trong lớp học hoặc trong trường đại học; hoặc những mẫu đối thoại giữa sinh viên với giảng viên. Các câu hỏi thường là dạng : ai, chủ đề của câu chuyệnở đâu.
  2. Phần ngữ pháp (15-20 phút).
    thường là dạng nhận định chỗ sai trong câu và điền từ thích hợp vào chỗ trống.
  3. Phần đọc hiểu (70-90 phút).
    Thí sinh sẽ đọc đoạn văn và trả lời các câu hỏi liên quan, thường là các dạng như: chủ đề của đoạn văn, các câu hỏi liên quan đến tác giả, các ý kiến được suy ra từ nội dung của đoạn văn…
  4. Phần viết bài luận (30 phút).
    Viết một bài luận về một chủ đề thông thường và nêu ra quản điểm chủ quan của thí sinh về chủ đề đó.
Bài thi TOEFL trên máy tính (CBT) được lập trình trước để mức độ khó-dễ của câu hỏi sẽ phụ thuộc vào sự trả lời của thí sinh đối với những câu hỏi trước.
Điểm số sẽ được chấm thành 3 phần theo thang điểm 0-30: nghe, đọc hiểu-ngữ pháp (gộp chung) và viết. 3 phần điểm sau đó được qui đổi thành điểm cuối cùng với thang điểm từ 0-300. Điểm viết sẽ được cho biết riêng theo thang điểm 0-6.

TOEFL trên giấy

Đây là dạng thi TOEFL cũ. Dạng này hầu như đã không còn được sử dụng trừ những khu vực không có điều kiện để thi iBT hoặc CBT. Cấu trúc bài thi PBT cũng tương tự như bài thi PBT chỉ có số câu hỏi nhiều hơn và thang điểm rộng hơn. Thang điểm tổng kết của TOEFL PBT là từ 310-677 và được qui đổi từ 3 cột điểm: nghe (31-68), ngữ pháp (31-68) và đọc (31-67). Khác với CBT, điểm phần viết (TWE - Test of Written English) không được tính vào điểm tổng kết mà được cho riêng biệt với thang điểm từ 0-6.

[nguồn: Wikipedia]

2月14日

Bạn có muốn trở thành chuyên viên công nghệ Microsoft?

Như trước đây Tạp chí e-Chíp đã đưa tin nhiều lần về thế hệ chứng chỉ mới của Microsoft, hiện nay sự quan tâm của thị trường đã bắt đầu có tín hiệu tăng dần. Bài viết này hy vọng có thể cung cấp thêm thông tin cho các nhà đào tạo, tuyển dụng và nhất là người học, người thi đang muốn “sở hữu” chứng nhận quốc tế.

mcts-logo

MCTS – chìa khóa mới để trở thành chuyên gia

Chứng chỉ MCTS (Microsoft Certified Technology Specialist) là chứng chỉ mới của Microsoft, xác nhận kiến thức chuyên sâu và kỹ năng tinh thông về một lĩnh vực nhất định trong công nghệ Microsoft. Cụ thể hiện nay có 5 nhánh sau:

  • Technology Specialist: .NET Framework 2.0 Web Applications
  • Technology Specialist: .NET Framework 2.0 Windows Applications
  • Technology Specialist: .NET Framework 2.0 Distributed Applications
  • Technology Specialist: SQL Server 2005
  • Technology Specialist: BizTalk Server 2006

Chứng chỉ đầu tiên MCTS: .NET Framework 2.0 Web Applications tập trung vào môi trường Dot Net và phát triển ứng dụng phía máy trạm trên nền web. Bạn cần thi hai môn:

  • Exam 70–536: TS: Microsoft .NET Framework 2.0 - Application Development Foundation (chọn một trong ba ngôn ngữ: Microsoft Visual Basic 2005, Microsoft Visual C# 2005, Microsoft Visual C++ 2005)
  • Exam 70–528: TS: Microsoft .NET Framework 2.0 - Web-Based Client Development (chọn một trong hai ngôn ngữ: Microsoft Visual Basic 2005 và Microsoft Visual C# 2005)

Tương tự, MCTS: .NET Framework 2.0 Windows Applications cũng yêu cầu hai môn thi, môn đầu 70-636 (đã nêu trên) và môn:

  • Exam 70–526: TS: Microsoft .NET Framework 2.0 - Windows-Based Client Development (chọn một trong ba ngôn ngữ: Microsoft Visual Basic 2005, Microsoft Visual C# 2005, Microsoft Visual C++ 2005)

Tiếp theo là chứng chỉ MCTS: .NET Framework 2.0 Distributed Applications, cũng giống hai chứng chỉ trên: bạn cần thi môn 70-536 và:

  • Exam 70–529: TS: Microsoft .NET Framework 2.0 - Distributed Application Development (chọn một trong hai ngôn ngữ: Microsoft Visual Basic 2005 và Microsoft Visual C# 2005)

Đó là ba chứng chỉ về ngành lập trình. Nếu bạn đã có MCSD thì bạn có thể thi thẳng lên MCPD (Microsoft Certified Professional Developer) mà không cần qua MCTS nữa. Chứng chỉ MCTS tiếp theo thuộc về ngành cơ sở dữ liệu. MCST: SQL Server 2005 tập trung sâu vào phần mềm quản trị dữ liệu SQL Server 2005, chỉ yêu cầu bạn thi một môn mà thôi. Công việc chính của những ai có chứng chỉ này là database administrator, database developer, hoặc business intelligence developer. Môn thi là Exam 70–431: TS: Microsoft SQL Server 2005 - Implementation and Maintenance.

Chứng chỉ MCTS còn lại là MCTS: BizTalk Server 2006, tập trung vào phần mềm BizTalk Server 2006. Thí sinh cần thi đậu một môn là Exam 70–235: TS: Developing Business Process and Integration Solutions Using BizTalk Server 2006.

Một số môn thi mới

Giữa tháng 3 vừa qua, Microsoft vừa đưa ra thêm một số kỳ thi có liên quan đến những chứng chỉ này. Chẳng hạn môn thi “UPGRADE: MCDBA Skills to MCITP Database Administrator by Using SQL Server 2005” (mã số Exam 70-447) dành cho các MCDBA muốn nhanh chóng đạt được chứng chỉ “MCITP: Databased Administrator”.

Các bạn có thể thường xuyên kiểm tra môn thi mới tại địa chỉ http://www.microsoft.com/learning/mcpexams/status/new.asp để nắm thông tin cập nhật. Những chi tiết về nội dung bài thi, các phần kiến thức cần nắm cũng như sách tham khảo về MCTS có liệt kê tại http://www.microsoft.com/learning/mcp/mcts. Chúc bạn đọc sớm trở thành chuyên viên công nghệ (technology specialist) do chính Microsoft công nhận.

Nguồn: Tạp chí eChip

TỰ SỰ MCP

MCP (Microsoft Certified Professional) là chứng chỉ được nhiều người thi nhất trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Bài viết này là lời tâm sự của danh hiệu này.

logo_mcp

Thế là đã tròn 13 năm, kể từ ngày mình oa oa khóc tiếng đầu đời. Đối với con người, 13 tuổi chỉ kịp đủ để vượt qua ngưỡng “con nít”, nhưng với mình ngần ấy năm đã là một khoảng thời gian dài nhiều biến cố và đã khá trưởng thành. Nhờ có “mẹ” là Microsoft nên mình có được sự khởi đầu khá thuận lợi, đồng thời càng về sau càng được phổ biến rộng rãi. Hiện nay, đã có hơn 1.6 triệu người sở hữu mình trên toàn thế giới. Và trong giới IT, không ai mà không biết tên mình cả.

Nhớ lại những ngày đầu mới ra mắt, mình chỉ có nhiều anh chị em và bè bạn như bây giờ. Ngày đó mình nhớ chỉ có anh MCSE (Microsoft Certified Systems Engineer) và anh MCT (Microsoft Certified Trainer) cùng với người bạn MCPS (Microsoft Certified Product Specialist) mà thôi. Tất cả bọn mình ngày đó đều tập trung vào lĩnh vực hệ thống và mạng. Mãi 3 năm sau, năm 1995, mình mới có thêm ông anh là MCSD (Microsoft Certified Solution Developer) chuyên về lập trình.

Mình du nhập vào Việt Nam vào khoảng năm 1997-1998. Đó cũng là thời điểm mình có thêm mấy người “bà con”: MCP+I nè, rồi MCSE+I nè và sau còn có MCP+SB nữa. Chữ I sau dấu cộng tức là Internet, nghĩa là chứng chỉ có thêm kiến thức về Internet. Còn chữ SB là viết tắt của Site Building, thiên về xây dựng website. Tuy nhiên, những người bà con này chỉ gắn với công nghệ Windows NT Server 4, sau này khi chuyển sang công nghệ mới thì họ xem như hoàn thành sứ mạng, không tung hoành trên chốn giang hồ nữa.

Năm 1999, mình bắt đầu có “bà chị” trong lĩnh vực cơ sở dữ liệu (CSDL) là MCDBA (Mcirosoft Certified Database Administrator). Giữa năm đó, trên toàn cầu chỉ mới có khoảng nửa triệu người có tên trong danh sách của mình.

Thế nhưng, chỉ hơn 1 năm sau, cuối năm 2000, số người sở hữu mình đã tăng gấp đôi, lên đến con số 1 triệu. Cũng trong năm này, các thí sinh đều được yêu cầu phải nâng cấp lên công nghệ Windows 2000, tạo nên một áp lực khá căng. Về sau này, bà mẹ Microsoft mới nới tay, công nhận sự tồn tại song song của MCP, MCSE thuộc những công nghệ khác nhau (nhưng tất nhiên chỉ công nhận người cũ thôi, còn người mới phải thi công nghệ mới). Hiện nay, đa số các thí sinh đều nhắm vào công nghệ tiên tiến là Windows 2003. Nhưng mình tin rằng, mình sắp được “lên đời” nữa rồi.

Sang năm 2001, do nhu cầu phân khúc về lao động và chuyên môn, bà mẹ Microsoft sinh ra thêm một ông anh MCSA, nằm giữa mình và anh MCSE. Chữ SA là Systems Administrator, đây là cấp độ quản trị và vận hành hệ thống mạng. Còn ông anh cả MCSE là cấp độ thiết kế, lập kế hoạch, cao hơn một bậc. Muốn “lấy” được mình, chỉ cần thi một môn là đủ, còn muốn đạt được anh MCSA phải qua 4 môn. Anh cả MCSE thì cao giá lắm, đòi “của hồi môn” đến 6-7 môn tùy theo công nghệ.

Về hướng lập trình, một năm sau cũng có ông anh “trung gian” giữa mình và MCSD. Đó là MCAD (Microsoft Certified Application Developer). Tất nhiên, thế giới cần nhiều lập trình viên phát triển ứng dụng hơn là những chuyên gia thiết kế giải pháp phần mềm. Như vậy, cả hai hướng hệ thống (mạng) và lập trình đều phân cấp theo kiểu kim tự tháp. Riêng nhánh về CSDL vẫn chỉ có mình chị MCDBA mà thôi. Gần đây, còn có anh MCDST về kỹ thuật máy đơn nữa.

Hiện giờ, hai ông anh MCSA và MCSE đều có thêm những “ruột thịt” khác, gọi là chứng chỉ chuyên biệt (specialization). Đó là MCSA: Messaging và MCSA: Security, cấp MCSE cũng thế. Không chỉ phân nhánh chuyên sâu như vậy, mà thí sinh còn được chọn công nghệ Windows 2000 hay 2003 để thi.

Những chuyên viên IT nào muốn “cưới” được mình, muốn có chứng chỉ mang chữ ký của chính Bill Gates, thì nên vào trang www.microsoft.com, phần Learning để xem chi tiết hơn. Mình mong sớm thuộc về các bạn, nhé!

Nguồn: Tạp chí eChip

2月12日

BackTrack4 Beta release

Download : http://www.remote-exploit.org/cgi-bin/fileget?version=bt4-beta-iso

bt4_1

bt4_2

bt4_3

Một số thông tin:

* Default password to BackTrack 4 hasn't changed, still root / toor.
* KDE 3 is being used in BT4. We tried KDE 4, really, we did. It ****ed. Maybe 4.2 in BT4 final.
* Most of the KDE "apt gettable" packages have "kde3" appended to their names. So "apt-get install kate-kde3" is good, "apt-get install kate" is bad. Use "apt-cache search " to search for packages to install.
* Kernel sources included in /usr/src/linux.
* DHCP disabled by default on boot, you need to /etc/init.d/networking start
* If you do an HD install and want to restore networking (DHCP) to be enabled at boot, type "update-rc.d networking defaults".
* VMware users - to fix the KDE resolution, type "fixvmware" before starting X.
* Vmware tools and kernel modules compile perfectly on VMWare 6.5.1
* If you can't get X to work, first try to autogenerate an xorg.conf by typing "Xorg -configure" and try using the generated conf file. If that bums out, you can revert to VESA by typing "fixvesa".
* Wireless networking in KDE can be started with KnetworkManager (/etc/init.d/NetworkManager)
* Various drivers can be found in /opt/drivers (various madwifi branches, video drivers for Nvidia and HP 2133's).
* Installation of BT4 to HD is similar to BT3. (tip - dont forget to modify /etc/fstab after the install. Change the first line from aufs / aufs .... to the corresponding device and filesystem. For example, on my box it's /dev/sda3 / reiserfs defaults 0 0, as my root partition is on sda3 and i used the resiserfs filesystem).
* The warning message "W: GPG error: http://ppa.launchpad.net intrepid Release: The following signatures couldn't be verified because the public key is not available: NO_PUBKEY CB2F6C86F77B1CA9" when "apt-get update" occurs as the Intrepid KDE 3 repos do not use a GPG key. We will eventually host these package in our own repo.
* Conky takes a while to load.

2月10日

New SID

Trong quá trình làm việc, ắt hẳn ai trong chúng ta cũng từng đau đầu về việc thay đổi SID. Hiểu được việc đó cho nên Microsoft đã cho ra đời một phần mềm NEW SID với mục đích thay đổi SID một cách dễ dàng và nhanh chóng. Các bạn có thể download phần mềm NEW SID tại đây :

http://technet.microsoft.com/en-us/sysinternals/bb897418.aspx

Add thêm lựa chọn Copy To khi click chuột phải

- Click Start --> Run --> Regedit –> Enter

- Tìm đến key sau: HKEY_CLASSES_ROOT\AllFileSystemObjects\Shellex\ContextMenuHandlers

- Click phải ContextMenuHandlers --> tạo New Key và đặt tên là Copy to

- Click chọn Copy To --> nhìn qua bảng bên trái --> Click phải trên key default --> chọn modify.

- Copy code bên dưới vào ô Value data:

{C2FBB630-2971-11D1-A18C-00C04FD75D13}

- Click OK, restart lại máy

Admin không bị ảnh hưởng Policy trên Workgroup

Từ trước đến nay chúng ta chỉnh policy trên workgroup thì đều ảnh hưởng đến tất cả user, làm sao để không ảnh hưởng lên Administrator ?

Chuẩn Bị: tạo user u1 để kiểm tra

Thực Hiện "cấm truy cập Control Panel":

1. Enable "Prohibit access to the Control Panel" trong User Configuration/Administrative Templates/ Control Panel
==> kiểm tra tất cả các user đều bị cấm truy cập Control Panel
2. Vào %Systemroot%\System32\GroupPolicy\User, sau đó copy file Registry.pol sang chổ khác(thí dụ ổ D)
3. Vào Group Policy chỉnh lại cho tất cả có quyền truy cập Control Panel
4. Copy file Registry.pol từ ổ D về %Systemroot%\System32\GroupPolicy\User.
==> Logon user để kiểm tra bị cấm truy cập Control Panel
==> Logon administrator kiểm tra được phép truy cập Control Panel

THAY ĐỔI LỆ PHÍ THI

Theo tin “mật báo”  thì từ 01/04/2009 Microsoft sẽ thay đổi lệ phí thi MCP, chi tiết thay đổi thế nào chưa công bố, nhưng chắc là tin không vui. Kèm theo sự thay đổi lệ phí thi là hình thức thi, chuyển từ thi trắc nghiệm sang thi lab.

Các bạn có ý định thi Quốc tế thì mau mau thi đi! đừng để nước đến chân mới nhảy.

Chúc may mắn

1月16日

THỦ THUẬT VƯỢT QUA ZING MOVIE

Thông thường để xem được xem phim hoặc tải phim tại http://movie.zing.vn bạn thường phải cài chương trình Zing chat vào máy để có thể chuyển tớitrang xem phim. Việc này cũng không phải khó khăn tuy nhiên nếu bạnthấy bất tiện hoặc không muốn cài thêm bất cứ chương trình nào vào máytính của mình thì sao. Nếu bạn chỉ đơn thuần muốn xem online mà không muốn download phim thì mình xin giới thiệu tới các bạn một cách có thể xem phim tại đây mà không cần cài Zing chat.

Thông thường là bạn truy cập vào Movie Zing bằng địa chỉ http://movie.zing.vn thì nay bạn hãy đừng truy cập theo địa chỉ đó mà hãy thay bằng địa chỉ http://movie.zing.vn/Movie/a34682bc.aspx. Khi truy cập bằng đường link này thì bạn vẫn được chuyển sang trang Movie Zing, tuy nhiên điểm thú vị ở đây là bạn có thể xem phim online mà ko cầng zing chat hay đăng nhập.

1月14日

THƯ GIÃN, GIẢM STRESS CHO TCA TỪ VUE

Nhận được món quà tặng từ PEARSON VUE (Trung tâm khảo thí quốc tế), khui ra thì thấy quả bóng  ngộ nghĩnh và dễ thương. Đây là quà tặng của VUE dành cho các TCA (Test Center Administrator) nhằm giảm stress khi áp lực công việc quá nhiều.

Cầm quả bóng tưng tưng chơi thì đúng là thoải mái hơn thật, đây đúng là một ý tưởng hay và độc đáo. smile_regular

PIC-0120 PIC-0121

KFC and VIP MEMBER

Những gì còn sót lại smile_tongue

PIC-0108

Đây là thẻ Vip Member của tui fingerscrossed

PIC-0117 PIC-0118

1月12日

Windows 7 Beta Download

vista_7_1

Microsoft đã chính thức phát hành bản Beta đầu tiên của HĐH Window 7. Bạn có thể download tại đây.

picture045

Bạn dùng các key chính thức từ Microsoft để kích hoạt

TQ32R-WFBDM-GFHD2-QGVMH-3P9GC
QXV7B-K78W2-QGPR6-9FWH9-KGMM7
GG4MQ-MGK72-HVXFW-KHCRF-KW6KY

picture043

Hình ảnh từ desktop Windows 7

Windows_7_RTM_by_aesmon11

1月9日

TIỀN ĐÂU LẤY VỢ ?

Sau những ngày bận rộn, hôm nay lại vô tình click vào cái icon Windows Live Writer nên sẵn tiện viết blog luôn. Nhưng viết về đề tài gì đây ? Thôi thì cuối năm ta cũng làm 1 cái tổng kết chi tiêu nho nhỏ để xem ta đã tiêu sài tiền như thế nào trong từng tháng để rồi còn để dành tiền cưới vợ nữa chớ. stress

E hèm, cũng bộn đây

- 1 ngày : 200k, 30 ngày : 6 Triệu

- Tiền thuê nhà : 3 Triệu

- Tiền điện : 500k (2 cái máy tính mở 24/24, trong đó có 1 con IBM Server “ăn điện dạng khủng”)

- Tiền Internet : 440k

Tính ra sơ sơ 1 tháng đã tiêu hết 10 Triệu, chưa kể tiền phát sinh như điện thoại, cho tiền 2 thằng em đi chơi (tui đang nuôi 2 thằng em ruột sinh đôi học đại học, hehe) … và còn tiền ăn nhậu của tui nữa chớ smile_teeth

Sang năm 2009 phải ráng cày lên thôi, đặng còn kiếm tiền cưới vợ nữa, hehe.

12月27日

CHỨNG CHỈ MICROSOFT ĐANG CÓ VÀ SẼ CÓ ?

Hôm nay là ngày gần cuối năm, rãnh rỗi logon vào trang MCP và tìm vào Certification Planner để xem con đường đi đến các chứng chỉ của Microsoft. Chà cũng nhiều môn mình chưa có quá nhỉ, thôi để sang năm cố gắng đi tiếp con đường săn “MS Cert” smile_regular hehe

mcp_voc_630x200 

Đây là các chứng chỉ Microsoft mà mình đã đạt được, hy vọng ngày này năm sau sẽ có thêm nhiều MS Cert nữa.

- Microsoft Certified IT Professional
(MCITP)
 
  + Enterprise Administrator
+ Server Administrator
- Microsoft Certified Systems Engineer:
Security
(MCSES)
 
  Microsoft Windows Server 2003
- Microsoft Certified Systems Administrator: Security
(MCSAS)
 
  Microsoft Windows Server 2003
- Microsoft Certified Application Developer
(MCAD)
 
  For Microsoft .NET
- Microsoft Certified Systems Engineer
(MCSE)
 
  Microsoft Windows Server 2003
- Microsoft Certified Systems Administrator
(MCSA)
 
  Microsoft Windows Server 2003
- Microsoft Certified Technology Specialist
(MCTS)
 
  + Microsoft Exchange Server 2007: Configuration
+ SQL Server 2005
+ Windows Server 2008 Active Directory: Configuration
+ Windows Server 2008 Applications Infrastructure: Configuration
+ Windows Server 2008 Network Infrastructure: Configuration
+ Business Desktop Deployment
- Microsoft Certified Networking Product Specialist
(MCNPS)
 
- Microsoft Certified Product Specialist
(MCPS)
 
- Microsoft Certified Professional
(MCP)
 
   
12月17日

CÀI ĐẶT FOREFRONT THREAT MANAGEMENT GATEWAY BETA1

I Giới thiệu:

Như các bạn đã biết, MS ISA Server là sản phẩm Firewall do Microsoft phát triển, nhưng hiện nay sản phẩm MS ISA Server đã dừng lại ở phiên bản cuối cùng là MS ISA Server 2006. Để thay thế cho MS ISA Server, Microsoft đã đưa ra sản phẩm Firewall mới có tên gọi là Forefront Threat Management Gateway (Forefront TMG)

Forefront Threat Management Gateway là sản phẩm cung cấp đầy đủ các tính năng bảo mật tích hợp giữa Internet Security and Acceleration Server (ISA) , Forefront Client Security, Forefront Security for Exchange Server, Forefront Security for SharePoint. Các bạn có thể xem chi tiết các tính năng của Forefront TMG trong bài viết "Tổng quan Microsoft Forefront Threat Management Gateway"

Nhằm mục đích cập nhật công nghệ mới, trong bài lab này chúng tôi xin giới thiệu với các bạn cách cài đặt Forefront TMG Beta1.

Bài lab bao gồm các bước:

1. Cài đặt Forefront TMG:
2. Cài đặt và cấu hình Firewall Client
3. Kiểm tra truy cập Internet

II Mô hình :

MO HINH TMG

III Chuẩn bị :

- Download Forefront TMG tại đây : http://technet.microsoft.com/en-us/evalcenter/cc339029.aspx . Forefront TMG cũng là 1 phẩn của tổng thể dự án xung quanh Forefront gọi là “Stirling”. Bạn có thể tải về tất cả hoặc chỉ TMG. TMG sẽ hoạt động tốt mà không cần đến “Stirling”, trong các bài viết sau tôi sẽ giới thiệu với các bạn về “Stirling”.

Xem chi tiết

12月16日

TỔNG QUAN MICROSOFT FOREFRONT THREAT MANAGEMENT GATEWAY

Vừa qua, Microsoft đã công bố sản phẩm Forefront Threat Management Gateway (Forefront TMG) Beta1, đây là sản phẩm cung cấp tính năng bảo mật tích hợp giữa Internet Security and Acceleration Server (ISA) , Forefront Client Security, Forefront Security for Exchange Server, Forefront Security for SharePoint.

Các đặc điểm của Forefront TMG:

- Bảo vệ hệ thống toàn diện

- Quản lý đơn giản

- Đơn giản giám sát hệ thống

TMG1

Forefront TMG cung cấp đầy đủ các tính năng của một Firewall:

A. Các tính năng mới:

Tính năng

Mô tả

Tương thích với Windows Server 2008, 64-bit

TMG chỉ có thể chạy trên Windows Server 2008 64-bit

Tùy chọn Antivirus, Antimalware

- Quét những file bị lây nhiễm
- Ngăn chặn những file bị nghi ngờ
- Ngăn chặn những file tìm thấy đã bị hỏng
- Ngăn chặn những file không thể scan
- Ngăn chặn tất cả file đã được mã hóa
- Ngăn chặn những file vượt quá thời gian admin qui định cho phép quét
- Ngăn chặn những file có kích thước lớn do admin qui định
- Loại bỏ các trang web một cách linh hoạt dựa trên địa chỉ IP, tên domain,  các URL do admin định nghĩa
- Kiểm soát nội dung:  những sự lây nhiễm từ malware, virus có thể gây ra sự chậm trễ trong việc truyền tải nội dung từ server đến client.  TMG sẽ kiểm sóat nội dung trong khi quét nhằm giúp phát hiện các phần mềm độc hại.  Nếu như việc truyền tải dữ liệu từ server đến client bị chậm trễ, TMG sẽ tự động thông báo tiến trình đang quét file đến client, chẳng hạn như ”Nội dung đang được kiểm tra”

Cấu hình quản lý truy cập web

Cho phép cấu hình quản lý việc truy cập web chỉ bằng 1 thao tác

Ngăn chặn việc truy cập đến 1 địa chỉ đã được định trước

- Bật tính năng kiểm tra các phần mềm độc hại và theo dõi lưu lượng web
- Bật tính năng Web Cache

B. Những tính năng cốt lõi:

I. Server Publishing: Bảo mật truy cập đến các server trong hệ thống nội bộ 

 

Tính năng

Mô tả

Tường lửa sẽ tạo ra những form để bạn điền vào bằng cách chứng thực theo dạng form base

Tạo ra các form được khi truy cập vào những trang Outlook Web Access dựa trên form base. Điều này tăng cường an ninh cho việc truy cập từ xa vào Outlook Web Access bằng cách ngăn ngừa những user không được chứng thực liên lạc đến máy chủ Outlook Web Access.

Remote access đến Terminal Services bằng SSL

Những máy tính chạy HĐH Windows Server 2003 hỗ trợ RDP thông qua SSL cho phép kết nối SSL đến Windows Server 2003 Terminal Services.

Thi hành các kết nối RPC trong Microsoft Exchange từ Microsoft Outlook và client dùng kết nối MAPI

- Publishing Rule cho phép người sử dụng kết nối từ xa đến Exchange Server bằng cách sử dụng đầy đủ chức năng Outlook MAPI client thông qua Internet. Client sẽ được cấu hình để sử dụng an toàn rpc đó. Vì thế kết nối được mã hóa

- RPC policy cho phép bạn khóa tất cả những kết nối không được mã hóa

Outlook Web Access Publishing

- Truy cập từ xa thông qua các hình thức kết nối SSL của SSL VPNs
- Tạo một bức tường lửa và tạo ra các quy định của Outlook Web Access SSL kết nối để Exchange Server của bạn

Microsoft Office SharePoint Server Publishing

Giao diện wizard mới hướng dẫn publishes nhiềuWindows SharePoint Services sites

TMG2

II. Virtual Private Networking (VPN)

Tính năng

Mô tả

Kết nối đến văn phòng chi nhánh bằng VPN

Tự động cấu hình kết nối VPN Site to site giữa 2 văn phòng.

Tích hợp giữa VPN với dịch vụ Microsoft Firewall

Bao gồm các chức năng đầy đủ của VPN.

Thanh lọc và kiểm tra cho VPN

VPN Client được cấu hình như một vùng mạng riêng
Tạo chính sách cho các VPN client.

SecureNAT client hỗ trợ cho VPN clients kết nối đến TMG VPN server

- Mở rộng hỗ trợ VPN Client bằng cách cho phép Secure NAT  truy cập Internet mà không yêu cầu Firewall Client cài đặt trên máy Client.

- Tăng cường an ninh mạng cho công ty, buộc người sử dụng dựa trên hoặc nhóm dựa trên firewall policy trên VPN SecureNAT client.

VPN Quarantine

Dùng công cụ VPN quarantine trên Windows Server 2003 cho việc thanh lọc và tích hợp vào firewall policy.

Publishing VPN servers

- Publish IP protocols và PPTP servers.

- Ứng dụng bộ lọc Smart PPTP để quản lý các kết nối phức tạp

- Publish Windows Server 2003 NAT-T L2TP over IPSec VPN server bằng cách sử dụng TMG 06 server publishing.

Chế độ IPSec tunnel hỗ trợ cho kết nối site-to-site VPN links Phát triển site-to-site link dùng chế độ IPSec tunnel như giao thức VPN

III. Các tính năng quản lý

Tính năng

Mô tả

Dễ dàng sử dụng các tính năng quản lý

- Bao gồm các tính năng quản l‎ý nhằm nâng cao mức độ an ninh mạng

- Giao diện người dùng quen thuộc với task panes, context-sensitive Help panes, và Getting Started Wizard.

Export và import dữ liệu đã được cấu hình

Lưu dữ liệu đã được cấu hình thành file .xml và sau đó bạn có thể import file này vào 1 server khác

Ủy quyền cho firewall administrator roles

Bạn có thể gán quyền quản l‎ý administrative roles cho user hoặc group.

TMG Microsoft Operations Manager (MOM) Management Pack

MOM Management Pack cho phép doanh nghiệp xem sự kiện giám sát và củng cố cho các bức tường lửa hoạt động.

Mở rộng SDK

Bao gồm một bộ SDK toàn diện cho việc phát triển những công cụ xây dựng trên TMG firewall, bộ nhớ đệm, và các tính năng quản lý.

Mở rộng hỗ trợ các sản phẩm khác

Cung cấp các sản phẩm, chẳng hạn như  quét virus, công cụ quản lý, và lọc các nội dung và báo cáo, trên đó xây dựng và hội nhập với TMG.

TMG3

IV. Monitoring and Reporting: Giám sát và báo cáo hiệu quả hơn

Tính năng

Mô tả

Giám sát việc đăng nhập

- Xem firewall, Web Proxy, và SMTP Message Screener logs

- TMG Server Management hiển thị thị trực quan các mục đăng nhập giống như đang quay lại quá trình đăng nhập của người dùng.

Xây dựng truy vấn cơ sở đăng nhập

- Truy vấn các tập tin log  bằng cách sử dụng trong truy vấn cơ sở đăng nhập.

- Truy vấn cho các bản ghi thông tin chứa trong bất kỳ lĩnh vực nào được ghi trong truy vấn cơ sở đăng nhập..

- Giới hạn phạm vi điều chỉnh của các truy vấn đến một khung thời gian cụ thể.

- Kết quả sẽ được hiển thị trong TMG MBE Management , có thể được sao chép vào Clipboard và dán vào một ứng dụng khác cho phân tích chi tiết hơn.

Giám sát và lọc session dựa trên firewall sessions

Xem tất cả các hoạt động kết nối đến firewall. Từ việc xem một session, bạn có thể phân loại hoặc ngắt session của 1 cá nhân hoặc 1 group.

Kết nối xác thực

Xác minh kết nối bằng cách thường xuyên theo dõi cụ thể kết nối tới một máy tính hoặc URL từ TMG MBE bằng cách sử dụng kết nối xác thực. Bạn có thể cấu hình để sử dụng phương pháp đó để xác định loại kết nối: Ping, kết nối TCP đến một cổng cụ thể, hoặc HTTP GET.

Tùy biến báo cáo TMG

Tuỳ biến nâng cao tính năng cho thêm thông tin chi tiết trong firewall report

Report publishing

- Cấu hình TMG báo cáo một cách tự động. Bạn có thể lưu file báo cáo này vào folder được chỉ định.

- Map folders hoặc file đến Web site virtual directory để người dùng có thể xem các báo cáo.

Thông báo bằng email sau khi tạo ra báo cáo

Cấu hình email , sau khi một báo cáo được hoàn thành,  TMG sẽ gửi email cho bạn

TMG4

C. Yêu cầu cài đặt

Processor

Memory

Operating System

Software

Hard Disk

Tối thiểu 1GHz

Tối thiểu 1GB

Windows Server 2008 x64 edition

Microsoft SQL Server 2005 Express Edition

Tối thiểu 150MB